Viêm Khớp Dạng Thấp Là Gì

Viêm khớp dạng thấp dân gian thường gọi là bệnh thấp khớp. Nhiều người nghĩ bệnh viêm khớp dạng thấp chỉ xảy ra ở người già, nhưng thật ra căn bệnh này cũng gặp nhiều ở người trẻ (dưới 40 tuổi) và trẻ nhỏ (dưới 16 tuổi). Bệnh gây đau nhức nhiều và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống thường nhật của người bệnh.

Bạn đang xem: Viêm khớp dạng thấp là gì


Các giai đoạn của bệnh viêm khớp dạng thấp Triệu chứng viêm khớp dạng thấp Chẩn đoán viêm khớp dạng thấp Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ viêm khớp dạng thấp Phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp
Các giai đoạn của bệnh viêm khớp dạng thấp Triệu chứng viêm khớp dạng thấp Chẩn đoán viêm khớp dạng thấp Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ viêm khớp dạng thấp Phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là gì?

Viêm khớp dạng thấp (RA) là một bệnh lý tự miễn điển hình, diễn biến mạn tính với các biểu hiện tại khớp, ngoài khớp và toàn thân với nhiều mức độ khác nhau. Bệnh tiến triển phức tạp, gây hậu quả nặng nề nên cần được điều trị tích cực ngay từ đầu bằng các biện pháp hữu hiệu để làm ngừng hay làm chậm tiến triển của bệnh, hạn chế tàn phế và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Viêm khớp dạng thấp làm giảm khả năng vận động khớp, khiến người bệnh mệt mỏi, xanh xao. Vào những ngày bùng phát, viêm khớp gây đau đớn đến cực độ, đôi khi làm ảnh hưởng đến các cơ quan khác trong cơ thể như phổi, mắt hoặc da. Viêm khớp dạng thấp là căn bệnh diễn biến mạn tính, nếu không kiểm soát, không ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến dính và biến dạng khớp. 

Các giai đoạn của bệnh viêm khớp dạng thấp

Khi viêm khớp dạng thấp tiến triển, cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những cảnh bảo tùy theo từng giai đoạn của bệnh, tuy nhiên nhiều người thường chủ quan, không để ý và bỏ qua những dấu hiệu này đến khi bệnh trở nặng và các cơn đau xuất hiện nhiều hơn mới chịu đi khám. Điều này khiến việc điều trị trở nên khó khăn hơn.

Giai đoạn 1

Đây là giai đoạn khởi phát của bệnh viêm khớp dạng thấp, các cơn đau thường xuất hiện thoáng, thỉnh thoảng người bệnh sẽ nhận thấy một số dấu hiệu như đau khớp, cứng khớp hoặc xuất hiện các dấu hiệu của khớp viêm như: Sưng, nóng, đỏ, đau. Lúc này màng hoạt dịch khớp bắt đầu bị tổn thương.

Giai đoạn 2

Giai đoạn này màng hoạt dịch khớp bị tổn thương nặng hơn và có thể xuất hiện những dấu hiệu của tổn thương sụn khớp khiến cơn đau xuất hiện nhiều hơn đặc biệt là khi vận động mạnh hoặc khi chơi thể thao.

Giai đoạn 3

Đây là giai đoạn người bệnh viêm khớp dạng thấp thường nhận thấy cơn đau tăng nặng và các gây ảnh hưởng tới vận động của người bênh. Lúc này các tổn thương không chỉ xuất hiện ở sụn khớp mà còn có thể ảnh hưởng đến các xương do phần sụn đã bị bào mòn khiến xương cọ sát vào nhau gây ra đau nhức dữ đội. Đây chính là giai đoạn mà nhiều người bệnh mới chịu đến các cơ sở y tế để khám, tìm hiểu nguyên nhân gây ra những cơn đau nhức và phát hiện ra bệnh viêm khớp dạng thấp.

Giai đoạn 4

Giai đoạn các khớp đã tổn thương nghiêm trọng khiến người bệnh mất khả năng vận động, mỗi cử động đều rất đâu đồng thời khớp dần xuất hiện các dấu hiệu cứng khớp, sưng đau thậm chí nghiêm trọng hơp khớp có thể bị dính và không còn khả năng vận động

Triệu chứng viêm khớp dạng thấp

Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng viêm khớp dạng thấp thường xảy ra ở các khớp nhỏ riêng lẻ như ngón tay, cổ tay, bàn tay, mắt cá chân và bàn chân. Đây là dạng bệnh có tính đối xứng, nếu bị đau các ngón tay bên tay trái, sau một thời gian sau, có thể bạn sẽ bị đau luôn các ngón tay bên tay phải. Khi viêm khớp dạng thấp tiến triển, cơn đau có thể diễn ra ở các khớp lớn hơn như khớp vai, khuỷu tay, đầu gối, hông, xương hàm và cổ, với các triệu chứng điển hình như: 

1. Nhóm triệu chứng toàn thân

Mệt mỏi, trì trệ, suy nhược vào giai đoạn đầu. Sốt nhẹ, tay chân ra nhiều mồ hôi, tê bì đầu chi. Đau nhức toàn thân dù không vận động mạnh trước đó. Biến chứng da, mắt, tim, phổi, mạch máu… giai đoạn nặng, ảnh hưởng đến nhiều cấu trúc khác không chỉ riêng khớp. 

2. Nhóm triệu chứng tại khớp

Đau, cứng khớp: Phản ứng viêm khiến khớp tổn thương và đau âm ỉ. Đau nhiều về đêm, tăng khi gần sáng và cơ cứng khớp lúc thức dậy ít nhất 30 phút, hạn chế vận động. Đặc biệt, viêm khớp dạng thấp có tính đối xứng, chỉ cần một bên khớp bị viêm đau thì bên còn lại cũng có biểu hiện tương tự.

Sưng, đỏ và nóng da tại vùng khớp bị viêm: Khớp tay - cổ tay - ngón tay hoặc khớp gối, khớp chân bị sưng đỏ do dịch tụ lại trong khớp. Sờ vào thấy ấm và nóng da. Vùng da khớp bị viêm có màu hồng nhạt hoặc đỏ hơn so với vùng xung quanh. Giai đoạn nặng, xuất hiện mụn đỏ (các nốt thấp khớp) trên vùng da khớp tổn thương, đường kính 5 - 20mm, các nốt này không gây đau. Các dấu hiệu của một cơn viêm khớp dạng thấp có thể biểu hiện khác nhau từ mức độ thoáng qua tới mức độ nghiêm trọng. Thời kỳ bùng phát của bệnh tăng lên thường có dấu hiệu sưng, đau, làm người bệnh khó ngủ, sức khỏe yếu dần đi. Hoặc các dấu hiệu cũng có thể dần biến mất đi khi cơn viêm đi qua.

*

Khởi đầu là các khớp nhỏ như ngón tay, cổ tay, bàn chân. Khi viêm khớp dạng thấp tiến triển, người bệnh có thể bị sưng, đau khớp gối, khủy tay, hông...

Chẩn đoán viêm khớp dạng thấp

Các chẩn đoán hình ảnh chỉ ra các tổn thương hiện hữu tại các khớp, còn xét nghiệm máu và yếu tố dạng thấp giữ vai trò đánh giá các tổn thương khớp giai đoạn sớm, cũng như tiên lượng về mức độ tiến triển của bệnh.

1. Chẩn đoán hình ảnh

Thời gian trước, X-Quang được áp dụng nhiều. Tuy nhiên, hiện nay, chụp cộng hưởng từ (MRI) - với hình ảnh mang lại rõ nét lại được dùng để chẩn đoán bệnh nhiều hơn. Bên cạnh việc chẩn đoán tổn thương ở sụn khớp & xương dưới sụn, MRI còn đánh giá được tình trạng tràn dịch khớp, viêm màng hoạt dịch. Ngoài ra, siêu âm khớp cũng có thể được áp dụng hỗ trợ kèm theo.

2. Xét nghiệm máu

Gồm tốc độ máu lắng (ESR), Protein phản ứng C (CRP), công thức máu toàn phần. Xét nghiệm máu cung cấp thông tin về các chỉ số bình thường và chỉ số khi bị bệnh. Đồng thời, giúp “truy tìm” các kháng thể hình thành do tình trạng viêm khớp gây ra như: anti-CCP (anti-cyclic citrullinated peptide antibodies) hay yếu tố khớp (RF).  Những trường hợp mắc phải viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm, sự xuất hiện của anti - CCP và yếu tố thấp khớp RF trong máu tiên lượng tình trạng gia tăng tổn thương khớp.

Xem thêm: Cách Nhận Biết Cây Đu Đủ Đực Và Hoa Đu Đủ Cái, Phân Biệt Hoa Đu Đủ Đực Và Hoa Đu Đủ Cái

Tuy nhiên, RF và anti – CCP cũng có thể xuất hiện trong một số bệnh lý viêm nhiễm mãn tính như lao tiến triển hoặc bệnh khớp tự miễn như lupus ban đỏ. Vì vậy, cần các các kỹ thuật chuyên môn để chẩn đoán phân biệt  giữa các loại bệnh.

Công thức máu toàn phần: Đánh giá mức độ thiếu máu khi bị viêm khớp dạng thấp kéo dài, mãn tính. Trường hợp viêm khớp dạng thấp thường thấy tăng tiểu cầu. Số lượng bạch cầu bình thường hoặc tăng nhẹ. Tăng tốc độ máu lắng (ESR) và Protein phản ứng C (CRP): có giá trị để đánh giá tình trạng viêm và dùng trong theo dõi đáp ứng điều trị, tuy nhiên đây là xét nghiệm không đặc hiệu.

3. Xét nghiệm yếu tố thấp khớp RF

Còn gọi là yếu tố dạng thấp. Đây là một loại xét nghiệm máu đơn giản nhằm đo các globulin miễn dịch kháng lại đoạn Fc của loại phân tử có tên là Globulin IgE. Nồng độ kháng thể RF cao được xem là yếu tố tiên lượng bệnh nặng. 50-75% người viêm khớp dạng thấp có RF dương tính thường là ở những bệnh nhân có chứa kháng nguyên tên là HLA-DR4 trong người và những người ở thể bệnh nặng, tiến triển nhanh… HLA-DR4 có tên là kháng nguyên hóa hợp tổ chức, và thường xuất hiện trong cơ thể người bệnh viêm khớp dạng thấp do di truyền từ gia đình.

*

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một tình trạng rối loạn mạn tính của hệ miễn dịch. Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác của căn bệnh này. Vì vậy, bác sĩ thường dựa trên các yếu tố nguy cơ gây bệnh và cơ chế bệnh sinh của bệnh để điều trị viêm khớp dạng thấp.

1. Các yếu tố nguy cơ viêm khớp dạng thấp

Những người chịu tác động của nhóm yếu tố nguy cơ sau đây có rủi ro trở thành đối tượng của viêm khớp dạng thấp cao:

Trong độ tuổi từ 40 - 60. Nhiễm một số vi khuẩn như Epstein-Barr virus, Parvo virus, Mycoplasma, vi khuẩn đường ruột…  Người thân trong gia đình bị viêm khớp dạng thấp.  Sống ở nơi có thời tiết lạnh ẩm kéo dài. Tiếp xúc với chất ô nhiễm môi trường như: amiăng và silica Hút thuốc lá. Thừa cân, béo phì. Nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn ở nam giới đến 2 - 3 lần.

(*) Lưu ý: Viêm khớp dạng thấp vẫn có thể gặp ở cả người nhỏ tuổi, bạn có thể tìm hiểu thêm qua bài viết: Viêm khớp dạng thấp thiếu niên

2. Cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp

Như ở phần định nghĩa đã chỉ ra, viêm khớp dạng thấp là một trong những bệnh lý tự miễn điển hình. Bệnh sinh ra do sự rối loạn của hệ thống miễn dịch dưới tác động của các yếu tố nguy cơ kể trên.

Bình thường, hệ miễn dịch sẽ sản xuất ra các kháng thể để tiêu diệt những tác nhân gây hại như vi khuẩn, virus, nấm… khi chúng xâm nhập vào cơ thể, nhằm bảo vệ các cơ quan khỏe mạnh, bao gồm khớp. Nhưng khi hệ miễn dịch bị rối loạn, cơ thể sẽ nhận diện sai “kẻ thù” là màng hoạt dịch và tấn công màng hoạt dịch, khởi phát phản ứng viêm. 

Cụ thể, các cấu trúc protein của cơ thể khi bị yếu tố độc hại tác động sẽ bị biến đổi thành các “protein có cấu trúc lạ” gần giống màng hoạt dịch của khớp, hoặc khi bị nhiễm khuẩn thì cấu trúc màng vi khuẩn gần giống với cấu trúc của màng hoạt dịch khớp. Tình trạng này xảy ra sẽ kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể như các đại thực bào, tế bào trình diện kháng nguyên, lympho B, lympho T gia tăng sản xuất các tự kháng thể chống lại các cấu trúc protein lạ, các yếu tố tiền viêm như TNF-α, interleukin 1, interleukin 6, interferon gamma… gây ra viêm màng hoạt dịch khớp.

Theo thời gian, quá trình viêm sẽ làm giảm chất lượng dịch khớp và tổn thương sụn khớp, xương dưới sụn gây ra viêm khớp dạng thấp với hàng loạt các triệu chứng như: sưng, nóng, đỏ, đau... tại khớp.

Nếu không được điều trị và ngăn chặn kịp thời, viêm khớp dạng thấp sẽ làm biến dạng khớp và làm mất chức năng vận động của khớp. Về lâu dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng sống của người bệnh, nguy cơ tàn phế cao, mất khả năng tự chủ cuộc sống...

*

Phụ nữ  độ tuổi 40-60 hoặc bị béo phì có nguy cơ cao mắc viêm khớp dạng thấp

Phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp

Điều trị viêm khớp dạng thấp chủ yếu xoay quanh việc dùng thuốc nội khoa (đường uống, đường tiêm, đường bôi ngoài…) để hạn chế các tổn thương khớp và khả năng xảy ra biến chứng. Các nhóm thuốc cơ bản, thường được dùng bao gồm:

1. Thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (hay thuốc chống thấp khớp thay đổi bệnh) DMARDs

Dùng DMARDs là phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp chính, làm thay đổi tình trạng hoạt động của bệnh theo chiều hướng tích cực. Gồm 2 nhóm:

Nhóm thuốc DMARDs kinh điển: Tùy thuộc vào tình trạng diễn tiến của bệnh để dùng đơn độc hay kết hợp các loại thuốc với nhau giúp ổn định tình trạng viêm khớp, làm chậm tiến trình phá hủy sụn khớp... ở nhiều bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Nhóm thuốc DMARDs sinh học: Còn được gọi là tác nhân sinh học (Biologic Agents). Đây là nhóm thuốc điều trị được bào chế dựa vào phản ứng miễn dịch của mỗi tế bào, mỗi Cytokin trong bệnh viêm khớp dạng thấp. DMARSs sinh học là nhóm thuốc cho hiệu quả kiểm soát viêm khá tốt, tác dụng nhanh và khả năng dung nạp tốt nên đã tạo nên cuộc cách mạng trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp.

Từ năm 2009, một số thuốc thuộc nhóm này đã được sử dụng tại Việt Nam. Thuốc được chứng minh có hiệu quả cải thiện lâm sàng đồng thời làm chậm tình trạng hủy khớp, giúp bảo tồn chức năng khớp cho bệnh nhân.

Đặc điểm chung của nhóm thuốc DMARDs sinh học là đạt hiệu quả kiểm soát tốt bệnh cả trên lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng. Tác dụng không mong muốn đáng ngại nhất của các thuốc này là lao và các nhiễm khuẩn cơ hội, nhiễm virus (đặc biệt virus viêm gan B, C), lao, ung thư. Do vậy, trước khi chỉ định thuốc sinh học, bệnh nhân phải được sàng lọc các nhiễm trùng này theo một quy trình nghiêm ngặt. 

*

Dùng thuốc nội khoa giúp giảm các triệu chứng tổn thương khớp trong viêm khớp dạng thấp

2. Nhóm chống viêm không steroid (NSAIDs)

Giúp giảm đau và tình trạng viêm. Tuy nhiên chúng sẽ có những tác dụng phụ (ù tai, loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, tổn thương gan thận, tim mạch) khi dùng liều cao và kéo dài. NSAIDs gồm 2 nhóm chính:

Nhóm ức chế chọn lọc: Cần thận trọng khi sử dụng ở những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, đái tháo đường… Nhóm ức chế không chọn lọc: Cần thận trọng khi sử dụng ở những người có bệnh lý dạ dày, suy gan, suy thận…

3. Nhóm thuốc chống viêm steroid

Sử dụng nhóm thuốc này theo đường uống hoặc truyền tĩnh mạch nhằm giảm đau, khống chế tình trạng viêm cấp tạm thời trong thời gian chờ tác dụng điều trị của thuốc chống thấp tác dụng chậm. Việc sử dụng steroid trong thời gian ngắn có thể làm bệnh nhân cảm thấy tốt hơn về tình trạng viêm khớp dạng thấp nhưng việc sử dụng lâu dài có thể sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc và gây ra nhiều tác dụng không mong muốn như ù tai, xốp xương - loãng xương, sụt cân và dễ mắc bệnh tiểu đường... Cần báo với bác sĩ khi bệnh nhân thấy các dấu hiệu bất thường. Ngoài ra còn có các phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp hỗ trợ khác như:

Phục hồi chức năng, chống dính khớp nhằm làm giảm tình trạng cứng và chống dính khớp. Y học cổ truyền và tắm suối khoáng phục hồi chức năng vận động khớp cho người bệnh. Ngoại khoa như nội soi rửa khớp (với khớp gối có viêm đơn độc hoặc viêm mạn tính kéo dài) hoặc phẫu thuật chỉnh hình khớp hay thay khớp nhân tạo (khớp háng, khớp gối) để phục hồi chức năng vận động khớp. Có thể điều trị dự phòng loãng xương, thuốc chống thoái hóa khớp, bảo vệ dạ dày…

4. Sản phẩm hỗ trợ điều trị viêm khớp dạng thấp từ cơ chế bệnh sinh

Được tạo nên từ các tinh chất thiên nhiên quý, điển hình là Eggshell Membrane (chiết xuất màng vỏ trứng), Collagen Type 2, Collagen Peptide đặc trị, Turmeric Root, Chondroitin Sulfate... - phongkhamtribenhtri.com thế hệ mới mang sức mạnh vượt trội, tác động trực tiếp vào cơ chế bệnh sinh, hỗ trợ điều trị viêm khớp dạng thấp hiệu quả:

Hỗ trợ giảm đau xương khớp hiệu quả nhờ kiểm soát hoạt động của các yếu tố gây viêm (TNFα, interleukin 1, interleukin 6, interferon gamma...), không làm viêm tiến triển, bảo vệ xương khớp chắc khỏe và phòng tránh một số biến chứng khớp nặng nề.

Tái tạo sụn khớp và xương dưới sụn nhờ kích thích tế bào sụn tăng sản xuất chất nền là collagen và aggrecan, đồng thời tăng cường chất lượng dịch khớp giúp khớp vận động trơn tru. Nhờ vậy, những khớp chịu ảnh hưởng của viêm khớp dạng thấp sẽ hồi phục nhanh hơn, đảm bảo cả cấu trúc lẫn chức năng của khớp. 

 

phongkhamtribenhtri.com Thế Hệ Mới - Vì Sống Là Động - 10 Năm Tiên Phong Chăm Sóc Xương Khớp | MV Hồ Quang Hiếu